Bình Liêu – Miền đất, con người

  07/04/2016

Bình Liêu là huyện miền núi, biên giới, dân tộc nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên là 475,1 km2 (chiếm khoảng 8% diện tích tỉnh Quảng Ninh). Tọa độ địa lý từ 21026’15” đến 21039’50” vĩ độ Bắc; từ 107016’20” -107035’50” kinh độ Đông. Vùng tiếp giáp: Phía Tây Bắc và phía Bắc giáp huyện Ninh Minh- Thành phố Sùng Tả, khu Phòng Thành – Thành phố Cảng Phòng Thành- tỉnh Quảng Tây - Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (43km đường biên giới); Phía Nam giáp huyện Tiên Yên và huyện Đầm Hà; Phía Đông giáp huyện Hải Hà; Phía Tây giáp huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.

Huyện Bình Liêu có 8 đơn vị hành chính: Trong đó, có 7 xã và 1 Thị trấn; 6/7 xã biên giới, 5 xã đặc biệt khó khăn; chia thành 104 khu phố, thôn bản. Bình Liêu có khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn. Cửa khẩu Hoành Mô, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định nâng cấp cửa khẩu Hoành Mô là cửa khẩu chính mở ra nhiều khả năng cho sự giao lưu mậu dịch, thông thương hàng hoá giữa nước ta với nước bạn Trung Quốc.

Mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn huyện: Đường Quốc lộ 18C chạy dọc chiều dài của huyện trên 30km, đường liên xã 101km, đường nội thị 7,5 km, đường thôn, xóm trên 201 km. Trong đó, đường Quốc lộ 18C là huyết mạch nối huyện Bình Liêu với các huyện thị, khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái và các trung tâm kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đặc điểm địa hình, khí hậu: Bình Liêu là huyện có địa hình miền núi, độ cao trung bình từ 500 - 600 m so với mặt nước biển, có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc – Tây Nam, với nhiều đỉnh núi cao trên 1000m (Núi Quảng Nam Châu trên đường phân thủy 2 huyện Bình Liêu và Hải Hà cao 1.507m, Cao xiêm 1.429m; Cao Ba lanh 1.113m; Ngàn Chi 1.160 m...) Về cấu trúc địa hình huyện Bình Liêu đa dạng, phân dị, bị chia thành 3 tiểu vùng: (1) Tiểu vùng núi thấp và trung bình Tây Bắc sông Tiên Yên: Độ cao trung bình trên 600m, gồm phần nửa phía Bắc các xã Vô Ngại, Tình Húc, Lục Hồn, Đồng Tâm, Hoành Mô. Địa hình bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều dãy hướng núi với nhiều đỉnh núi cao 800 - 1.000m dọc trên đường biên giáp Trung Quốc; (2) Tiểu vùng núi thấp và núi trung bình Đông Nam: Độ cao trung bình 600 - 700m, độ dốc bình quân khoảng 25 - 28 độ, gồm các xã Đồng Văn, Húc Động, phía nam xã Hoành Mô, một phần các xã Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc. Đặc điểm cấu trúc địa hình khá phức tạp, tạo thành những dãy núi lớn với nhiều đỉnh cao trên 1000m, những dãy núi cao nằm trên đường phân thủy huyện Bình Liêu với huyện Hải Hà, Đầm Hà. Đất đai của tiểu vùng chưa bị thoái hóa nhiều, có những điểm mặt bằng dưới 15 độ, thích hợp với các loại cây đặc sản như hồi, quế, sở... (3) Tiểu vùng đồi núi thấp và thung lũng ven sông Tiên Yên: Từ Đồng Văn đến Vô Ngại theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, độ cao trung bình khoảng 300 - 400m, độ dốc thấp dưới 15 độ. Tiểu vùng này chủ yếu là đồi thấp, dốc thoải, nhiều ruộng bậc thang, thích hợp sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng ngắn ngày.

Đặc điểm khí hậu, thủy văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý và cấu trúc địa hình, khí hậu của huyện Bình Liêu là khí hậu miền núi khá điển hình, phân hóa theo đai cao, tạo ra những tiểu vùng sinh thái nhiệt đới và á nhiệt đới thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi. Ở vùng đồi núi cao, ven khe suối thích nghi với các loại cây công nghiệp như hồi, quế, trẩu, sở; vùng thấp phù hợp với các loại cây ăn quả như nhãn, vải, cam, hồng… Nhiệt độ trung bình trong năm từ 180 C - 280 C, nhiệt độ trung bình cao nhất mùa hạ từ 320C - 340 C, nhiệt độ trung bình thấp nhất mùa đông từ 50 C - 150 C, thỉnh thoảng có sương muối, băng giá ở vùng núi cao. Lượng mưa khá cao, bình quân từ 2000 - 2400 mm/năm, số ngày mưa trong năm là 163 ngày, khoảng 70% lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, sườn phía đông các dãy núi mưa nhiều từ 2400-2800mm.

Bình Liêu có nhiều sông suối nhỏ, ngắn và dốc, tụ hội chảy vào sông Tiên Yên bắt nguồn từ vùng núi biên giới Việt - Trung, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, có độ dốc lớn, lòng sông nhiều thác ghềnh. Thủy chế các sông suối miền núi khá phức tạp, mà sự tương phản chính là sự phân phối dòng chảy không đều trong năm. Mùa mưa lượng nước dồn nhanh về sông chính, tạo nên dòng chảy lớn và xiết, gây lũ ngập lụt. Về mùa khô trên các xã vùng cao tình trạng thiếu nước rất phổ biến vào các tháng mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) dòng chảy cạn kiệt, mực nước sông rất thấp.

Tài nguyên đất đai: Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 475,1km2, trong đó đất nông nghiệp: 38.967,43 ha bằng 82,02%, đất phi nông nghiệp: 1.605,85 ha bằng 3,38 %, đất chưa sử dụng: 6.936,77 ha bằng 14,60 %.

Về tài nguyên rừng: Huyện Bình Liêu có 34.683,11 ha diện tích đất lâm nghiệp chiếm 73,0 % diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Trong đó rừng phòng hộ 14.524,37 ha chiếm 41,88 %, rừng sản xuất 20.158,74 ha chiếm 58,12 %. Hệ thực vật rừng rất đa dạng, trong đó có các loại thực vật quý hiếm cần được bảo vệ như sến mật, vù hương, sa nhân…

Khoáng sản và vật liệu xây dựng: Các khoáng sản có hiệu quả kinh tế chủ yếu trong huyện là khoáng sét làm gạch, mỗi năm sản xuất khoảng 11,5 triệu viên; đá cao lanh, mỗi năm sản xuất khoảng 20.300 tấn. Về vật liệu xây dựng chủ yếu là khai thác đá cuội, sỏi, cát ở ven các sông, suối phục vụ tại chỗ trên địa bàn huyện.

Về văn hóa- xã hội: Đến hết năm 2015, tổng dân số của huyện trên 30.000 người. Mật độ dân số bình quân 56 người/km2. Trong đó, dân tộc Tày chiếm 58,4%, Dao chiếm 25,6%, Sán Chay chiếm 15,4%, Kinh chiếm 3,7%, Hoa chiếm 0,3%. Xã nào cũng có nhiều dân tộc khác nhau, song người Tày đông nhất ở thị trấn Bình Liêu và các xã vùng núi thấp như Tình Húc, Vô Ngại, Lục Hồn, Đồng Tâm; người Dao sinh sống tập trung ở Đồng Văn (78,55%); người Sán Chay sinh sống tập trung ở xã Húc Động (72,8%).

Đồng bào các dân tộc ở Bình Liêu có truyền thống đánh giặc giữ nước từ lâu đời. Trên đỉnh núi Cao Ba Lanh giáp biên giới có những hòn đá rất lạ, gõ vào đá phát ra tiếng kêu gần giống tiếng chuông và lại nghe tiếng vang ở cả các hòn khác. Có truyền thuyết về những “hòn đá thần” có tiếng vang làm quân xâm lăng gục ngã. Lại có chuyện người dũng sĩ cưỡi ngựa đánh giặc nay còn ghi dấu ở nhiều địa danh như Bãi Dáo, Ma Trạt (ngựa trượt) và chuyện về giống tre mọc ngược do lời thề của người dũng sĩ khi chống gậy dừng chân. Sử sách còn ghi lại những trận đánh đuổi quân xâm lược từ bên kia biên giới tràn sang, nhất là cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX - những năm đầu thời Nguyễn, bên Trung Quốc là thời nhà Thanh.

Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi quan quân Nhật vừa rút chạy, nhân dân Bình Liêu và binh lính đồn Bình Liêu đã nô nức chào đón Việt Minh. Tháng 11-1945, Bình Liêu thành lập chính quyền cách mạng. Giữa năm 1946, bọn Việt Cách theo chân quân Tưởng tràn vào Bình Liêu và đầu năm 1947, quân Pháp quay lại chiếm đóng, nhân dân Bình Liêu kiên cường kháng chiến. Cùng với Chiến dịch Biên Giới, ngày 25-12-1950, quân đội ta vây đánh đồn Bình Liêu, buộc quân Pháp rút chạy, Bình Liêu được hoàn toàn giải phóng và trở thành căn cứ kháng chiến của tỉnh Hải Ninh.

Đồng bào các dân tộc huyện Bình Liêu có truyền thống văn hóa lâu đời. Là huyện đa dân tộc (khoảng trên 96% đồng bào dân tộc thiểu số), nên huyện có nền văn hóa phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc của các dân tộc ít người.

Mỗi thôn, bản ở vùng cao huyện Bình Liêu đều có một ngôi nhà chung để sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng, trong đó tiêu biểu là đình Lục Nà ở Lục Hồn. Đây là ngôi đình hàng Tổng của tổng Bình Liêu. Đình Lục Nà là di tích lịch sử cấp tỉnh (được phục dựng lại Lễ hội từ năm 2005). Điều đặc biệt, đình Lục Nà không đầu đao, tàu mái vút cong đầu rồng, nguy nga bề thế như những ngôi đình làng khác của người Kinh ở đồng bằng mà ở đây đình hoàn toàn sử dụng bằng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, mang dáng dấp của những nếp nhà người Tày xinh xắn và hợp với không gian của núi rừng vùng cao biên giới.

Niên đại của đình Lục Nà chưa rõ, nhưng theo các cụ già, nhân dân và sự tích thì đình được xây dựng từ thời hậu Lê để thờ thành hoàng làng là Hoàng Cần, một người anh hùng của đất Bình Liêu. Ngoài việc thờ thành hoàng làng là Hoàng Cần, một anh hùng của đất Bình Liêu, người Tày ở Lục Hồn còn đưa các vị thần núi, thần sông, thổ công, thổ địa vào đình để thờ. Họ cho rằng, những vị thần này luôn che chở cho bà con làng bản chân cứng, đá mềm, bình yên khỏe mạnh, tránh được thú dữ trong rừng và cho mùa màng tươi tốt, cây ngô, cây lúa đầy rẫy.

Lễ hội đình Lục Nà được tiến hành từ ngày 16 đến ngày 20 tháng giêng âm lịch hàng năm, trong không khí trang nghiêm, vui vẻ, đầm ấm và trước sự chứng kiến của đông đảo bà dân tộc ở Bình Liêu. Hoạt động tại lễ hội có ý nghĩa giáo dục cộng đồng sâu sắc. Thông qua lễ hội mà tình đoàn kết gắn bó giữa các thành viên trong tổng, xã càng thêm bền chặt keo sơn, cùng xây dựng làng, bản vùng cao Bình Liêu ngày càng ấm no.

Sau lễ hội đình Lục Nà, vào ngày 16-3 âm lịch, Bình Liêu có hội hát tháng 3 tại Húc Động (Chợ tình giao duyên của người Sán Chỉ), hội hát Sán Cố và ngày “kiêng gió[1]” 4-4 âm lịch hàng năm của người Dao tổ chức tại xã Đồng Văn. Đây là những ngày hội văn hóa rất đặc sắc đang được địa phương phục dựng và phát triển.

Ở Bình Liêu, văn học dân gian của các dân tộc thiểu số Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa tương đối phát triển. Các dân tộc sinh sống thành những cộng đồng dân cư ở các làng bản miền núi với ngôn ngữ, phong tục tập quán riêng với rất nhiều thần thoại, truyền thuyết mang sắc thái địa phương, nhất là những truyền thuyết gắn liền với đồi núi, sông suối, các địa danh và các sự kiện lịch sử.

Bản sắc văn hóa tinh tế và độc đáo của nhân dân các dân tộc Bình Liêu còn thể hiện qua nhiều truyền thuyết. Trên đất Bình Liêu, nhất là ở những nơi có núi đèo có nhiều truyền thuyết về ông Bụt, ông Phật - Đèo Phật Chỉ (đèo Phật dừng) giữa Bình Liêu - Đình Lập.

Tương tự như vậy, ở những nơi có địa hình lạ, nhất là các núi đá, có khi chỉ là một tảng đá, một hòn đá không bình thường cũng đủ để người xưa tưởng tượng ra sự tích. Ở núi Cao Ba Lanh, xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu có những hòn đá gõ vào liền vang ngân tiếng kêu, thế là có Sự tích đàn đá thần - tiếng đàn có sức mạnh làm kẻ thù tự nhiên gục ngã. 

Đặc điểm này thể hiện ở nhiều cấp độ nghệ thuật. Nhiều truyện vừa có nhân vật với những tính cách được khắc họa bằng hành động cụ thể vừa có kết cấu chặt chẽ với những tình tiết sinh động, những mâu thuẫn hợp lý, lại được minh chứng bằng những tên tuổi có thật trong sử sách hoặc bằng những dấu vết thực tế đầy sức thuyết phục. Thể loại truyện này có thể kể Sự tích xã Vô Ngại, Truyền thuyết Phạm Nhan…

Trong các dân tộc thiểu số ở Bình Liêu, người Tày có số dân đông nhất. Ở một số vùng, người Tày còn được gọi là người Phén (Phén nhằn: người Phên) hoặc người Thủ (Thủ nhằn: người Thổ). Người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ và văn hóa Tày - Nùng, cũng là những cư dân cổ của khối Bách Việt nên có nhiều nét tương đồng với người Việt. Người Tày không theo tôn giáo nào mà chỉ có tín ngưỡng dân gian với tục thờ cúng tổ tiên, thần thành, ma quỷ mà người Tày gọi chung là phi. Phi là linh hồn của vạn vật, có khắp mọi nơi (tương tự như hồn ma trong ngôn ngữ của người Kinh) và có ma lành, ma dữ. Ma lành, ma dữ tác động tốt xấu đến mỗi gia đình, mỗi số phận hàng ngày nên phải luôn lo cúng khấn, xin ma lành phù hộ xua đuổi ma ác. Từ đó, trong cộng đồng cư dân Tày Nùng luôn có các thầy mo, bà then giỏi cúng bái, được các gia đình nhờ cậy. Những lời văn cúng lễ cùng những điệu hát, điệu múa tín ngưỡng cũng từ đó hình thành nên có hát then, múa then. Cho đến nay, thật khó cắt nghĩa nguồn gốc của các hình thái nghệ thuật biểu diễn truyền thống của dân tộc Tày là từ lao động, từ giao duyên, từ giải trí hay từ tín ngưỡng.

Trong nghệ thuật biểu diễn, người Tày rất chú ý nhạc cụ. Nhạc cụ phổ biến nhất của người Tày là cây đàn tính. Cây đàn này xưa luôn đi liền với hát then, múa then trong nghi lễ cúng then nên còn gọi là “đàn then”. Đó là một cây đàn đơn giản chỉ có hai dây nhưng do có cần đàn dài với nhiều phím bấm nên vẫn tạo nên nhiều cung bậc thánh thót, dìu dặt, rất hợp với điệu hát then. Nếu hát then không thể thiếu cây đàn tính thì múa then không thể thiếu được quả nhạc. Đây là một nhạc cụ bằng đồng - một quả tròn trong có hạt để khi rung sẽ tạo âm thanh, rung theo nhịp múa sẽ tạo nên tiết tấu, nhịp điệu rộn ràng, tươi vui. Ở nhiều điệu múa sôi động, người Tày còn dùng thanh la và trống. Trong dịp hội xuân như hội lồng tồng, hội au pò, còn có tiếng chiêng (cồng) âm vang, thiêng liêng, náo nức.

Về hát, người Tày có nhiều làn điệu dân ca. Ngoài hát ru còn có hát lượn trong hội xuân, hát đối đáp trong đám cưới. Đó là các làn điệu then, sli, tì-làu… Điệu hát then vốn để hát trong cúng then đã trở thành điệu dân ca phổ biến nhất. Nếu điệu sli duyên dáng, tha thiết, bay bổng thì điệu hát then như những lời tự sự chân thành, ngôn ngữ và tiết tấu mạch lạc trong một giai điệu mượt mà, uyển chuyển, không hoa mĩ, không cầu kỳ. Với thang âm vừa phải, điệu hát then dễ hát, rất thích hợp với giọng nữ nên hầu như các thiếu nữ Tày đều biết hát then.

 

Về múa, trong ngày hội xuân đông vui, người Tày có múa sư tử. Múa sư tử do nam trình diễn, gồm người múa sư tử và hai người hóa trang thành hai con khỉ. Sư tử chạy, lượn, lướt, nhảy, vờn; khỉ trêu chọc, tránh né một cách ranh mãnh. Trong náo nức tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng cồng, cảnh tưởng diễn ra sôi động hào hứng, vừa thể hiện tinh thần thượng võ vừa lạc quan.

Trong đêm hội xuân, các thiếu nữ Tày có điệu xòe chiêng. Đội hình đồng phục, tay cầm quạt hoặc đeo quả nhạc, chân nhảy nhẹ và nhún, hất chân sang phải, sang trái, vừa bước ngang vừa tiến chéo, người nghiêng nghiêng, tay vung nhịp nhàng theo nhịp trống, chiêng. Điệu múa vui tươi, duyên dáng và phóng khoáng.

Múa giã cốm (có nơi gọi là múa giã gạo) cách điệu các động tác cầm chày giã xuống cối. Người nâng cao, người hạ xuống, bước chân tiến lùi nhịp nhàng và vui nhất là đoạn tiếng chày va nhau rộn ràng khi mẻ cốm giã xong.

Trong nghi lễ cúng then, các bà then thường rất giỏi múa then. Tùy từng nội dung lễ cúng then (then đám cưới, then đám ma, then cầu phúc, then trừ ma quỷ, then giải hạn, then chữa bệnh, then cầu mùa, then mừng thọ, then vượt biển, then lên Thiên cung, then khỏa quan (tướng quân), then chào kính, then trừ uế tạp…) mà bà then hát, ngâm, múa, tấu đàn then. Trong các điệu múa then, các bà then thường chú ý nhất là múa chầu quạtmúa chầu nhạc. Lục múa là lúc bà then đã “nhập hồn”, một mình múa say sưa, mạnh mẽ, có các động tác múa dùng tay vung, chân đá và người xoay, lắc, cúi… biến hóa liên tục, khi múa đứng, khi múa ngồi, khi múa lăn. Múa chầu quạt thì đạo cụ chính là quạt. Múa chầu nhạc thì đạo cụ chính là quả nhạc. Ngoài ra, khi kết thúc thường có múa tán hoa, đạo cụ là những bó hoa, người múa đi quanh rồi tung hoa lên trả chúng về rừng.

Bên cạnh văn hóa của người Tày, ở Bình Liêu, người Dao cũng có nền văn hóa phong phú. Người Dao có nguồn gốc từ vùng châu Dương, châu Kinh (nay thuộc các tỉnh Giang Tô, An Huy, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Nam của Trung Quốc), nằm trong khối Bách Việt. Họ di cư vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XIII, theo đường bộ vào vùng Việt Bắc, theo đường thủy vào vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Các nhóm Dao đều chung ngôn ngữ hệ Mông - Dao, tôn thờ chung vị thủy tổ là Bàn Hồ, cùng chung các phong tục, tiêu biểu là tục làm lễ cấp sắc cho thanh niên.

Trong các lễ cưới, các đám ma, các kỳ cúng vua Bàn Hồ, các ngày Tết…, người Dao đều có biểu diễn hát, múa và tấu nhạc cụ. Các hoạt động này trước hết là hoạt động tín ngưỡng, gắn liền với các nghi lễ cúng bái; đồng thời, nó chính là nghệ thuật có nguồn gốc sâu xa từ lao động, chiến đấu và trong đời thường. Ca múa nhạc đã hòa trong nếp sống nên một trong các vị thần được người Dao tôn thờ là thần coi sóc văn nghệ, ca múa nhạc.

Bình Liêu là huyện biên giới, miền núi, rẻo cao, núi non hiểm trở, nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người, là một trong những cửa ngõ phía Đông Bắc nước ta, có vị trí chiến lược về quân sự và quốc phòng. Do địa hình phức tạp nên giao thông đi lại khó khăn, kinh tế hàng hóa chậm phát triển, trình độ dân trí không đều. Những đặc điểm về địa lý - kinh tế - xã hội đã tạo nên bản chất con người Bình Liêu: sống giản dị, chân thật, thủy chung son sắt; trọng lẽ phải, ghét gian tà và áp bức, bất công, cần cù chịu khó trong lao động sản xuất, dũng cảm kiên cường trong chiến đấu; có ý thức dân tộc, lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế cao.

BinhLieu.COM

 


[1] Người Dao quan niệm rằng, để có thiên nhiên tran hòa trời đất đã sinh ra vạn vật, mỗi năm đều có ngày sinh ra trời, có ngày sinh ra đất, ngày mặt trăng… và ngày 4-4 là ngày sinh ra gió, theo truyền thống, ngày 4-4 âm lịch hàng năm bà con dân tộc Dao không tổ chức lao động sản xuất vì làm nhà thì gió cuốn đi, trồng cây thì gió quật đổ… nên họ chỉ tổ chức hẹn hò và hát Sán Cố, đây cũng là ngày những đôi bạn cũ tự do tìm về với nhau. Người Dao ở các địa phương khác trong tỉnh Quảng Ninh và bên kia biên giới cũng tìm về Đồng Văn trong ngày “kiêng gió” này.

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả

Về chúng tôi

Về chúng tôi

Chúng tôi là nơi kết nối của tất cả du khách khi tới thăm Bình Liêu – Quảng Ninh.